Giới thiệu
Tin tức & Sự kiện
Huyện uỷ
HĐND huyện
UBND huyện
MTTQ & Đoàn thể
Các đơn vị trực thuộc
Thủ tục hành chính
Kinh tế - Xã hội
KHKT nông nghiệp
Kinh tế - Xã hội
Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2008, phương hướng, nhiệm vụ năm 2009


BÁO CÁO

Kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng

năm 2008, phương hướng, nhiệm vụ năm 2009

                                                                                          

 

Phần I

KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KINH TẾ - XÃ HỘI, AN NINH QUỐC PHÒNG NĂM 2008

 

I. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu chủ yếu.

1. Tổng sản phẩm xã hội (GDP) trên địa bàn theo giá thực tế đạt 274,8 tỷ đồng, theo giá cố định (1994) đạt 127,8 tỷ đồng. Tăng trưởng kinh tế đạt 14,1% (NQ HĐND huyện 14 - 15%);

   Trong đó:

+ Lĩnh vực nông, lâm, thủy:                  Tăng 10,53% (NQ HĐND huyện 10 -11%)

+ Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng:  Tăng 17,1% (NQ HĐND huyện 18 - 19%)

+ Lĩnh vực thương mại - dịch vụ:    Tăng 18,5% (NQ HĐND huyện 19 - 20%)

2. Cơ cấu kinh tế: Lĩnh vực nông, lâm, thuỷ chiếm tỷ trọng 55,46% (NQ HĐND huyện 53-54%); lĩnh vực công nghiệp, xây dựng chiếm tỷ trọng 18,5% (NQ HĐND huyện 18- 19%); lĩnh vực thương mại - dịch vụ chiếm tỷ trọng 26,04% (NQ HĐND huyện 27 - 28%).

3. Thu nhập bình quân đầu người đạt 6.625.000 đồng (NQ HĐND huyện: 5,5 triệu đồng).

4. Tổng sản lượng lương thực đạt 44.880 tấn, đạt 106,6% so kế hoạch, tăng 8,1% so cùng kỳ (NQ HĐND huyện 42.100 tấn); trong đó: sản lượng thóc: 40.794 tấn (thóc có giá trị kinh tế cao chiếm 45,4% sản lượng thóc).

5. Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 16.100 triệu đồng, đạt 128,49% kế hoạch tỉnh và huyện, 112,35% kế hoạch phấn đấu, tăng 57,41% so cùng kỳ (NQ HĐND huyện 12,53 tỷ đồng).

6. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng 18,3% (NQ HĐND huyện dưới 19%)

7. Tỷ lệ hộ nghèo 22,08% (NQ HĐND huyện dưới 23%).

8. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 1,28% (NQ HĐND huyện dưới 1,3%).

II. Kết quả cụ thể:

1.  Lĩnh vực kinh tế:

a) Sản xuất nông, lâm nghiệp:

Tiếp tục triển khai và thực hiện có hiệu quả chương trình sản xuất nông nghiệp như chuyển dịch mùa vụ, cơ cấu cây trồng bằng các giải pháp như sản xuất lúa giống, lúa có giá trị kinh tế cao. Chú trọng công tác dự tính, dự báo thời tiết, khí hậu và sâu bệnh hại cây trồng để chỉ đạo sản xuất bảo đảm năng suất, sản lượng. Chỉ đạo nâng cao chất lượng và giải quyết đầu ra cho sản phẩm nông sản. Tập trung chỉ đạo triển khai các chương trình, dự án đầu tư hỗ trợ phát triển nông nghiệp thuộc nguồn vốn chương trình mục tiêu năm 2008.

* Trồng trọt:

Đối với cây ngắn ngày: Tổng diện tích gieo trồng 10.510,2 ha, đạt 105,1% kế hoạch, tăng 2,4% so cùng kỳ. Sản lượng lương thực 44.880 tấn, đạt 106,6% kế hoạch năm, tăng 8,1% so cùng kỳ. Trong đó: một số cây trồng chính:

Cây lúa: Diện tích gieo trồng 7.839,8 ha, đạt 104,8% kế hoạch, giảm 2% so cùng kỳ. Diện tích thu hoạch 7.779,8 ha, năng suất bình quân 52,4 tạ/ha, sản lượng 40.794,1 tấn, đạt 107,6% kế hoạch năm, tăng 7% so cùng kỳ.

Cây bắp: Diện tích gieo trồng 673,1 ha, đạt 89,7% kế hoạch, tăng 2% so cùng kỳ; năng suất bình quân 60,7 tạ/ha; sản lượng 4.087,7 tấn, đạt 97,6% kế hoạch, tăng 20,4% so cùng kỳ.

Ngoài các cây trồng chính trên, một bộ phận nhân dân chủ động triển khai trồng rau, mì. Diện tích trồng mì 838,2 ha (chủ yếu ở xã Quảng Ngãi và Đồng Nai Thượng); đối với cây rau đã đưa vào trồng một số loại có giá trị kinh tế cao.

- Cây dài ngày: Diện tích thực hiện trong năm 618,5 ha, luỹ kế 5.802 ha, đạt 97,9% kế hoạch, tăng 12,7% so cùng kỳ. Trong đó:

Cây điều: Diện tích thực hiện trong năm 590 ha, luỹ kế 5.379 ha, đạt 99,2% kế hoạch, tăng 14,1% so cùng kỳ (Diện tích điều ghép trong năm 249,9 ha, luỹ kế 1.824,6 ha).

Cây dâu: Triển khai chương trình trồng dâu từ nguồn vốn tỉnh hỗ trợ, tuy nhiên do thị trường tiên thụ kén không ổn định nên nhân dân không hưởng ứng và diện tích trồng dâu có xu hướng giảm, chỉ còn 63,2 ha.

Chỉ đạo thực hiện các mô hình như nếp quýt, cà tím; qua đánh giá, sơ kết mô hình đã khẳng định tính phù hợp các loại cây trồng này trên địa bàn huyện.

* Chăn nuôi - thú y:

Đàn trâu 1.862 con, đạt 98% kế hoạch, tăng 9,5% so cùng kỳ; đàn bò 15.210 con, đạt 89,5% kế hoạch, tăng 19,6% so cùng kỳ, trong đó bò lai sind 6.353 con, chiếm 41,7% tổng đàn; đàn gia cầm 138.730 con, đạt 81,3% kế hoạch, giảm 11,8% so cùng kỳ; riêng đàn heo, tuy dịch tai xanh xảy ra làm cho đàn heo giảm mạnh vào giữa năm, song đến cuối năm đàn heo đã được khôi phục. Đến hết năm, đàn heo có 22.642 con, đạt 98,4% kế hoạch, tăng 13,3% so cùng kỳ.

Chỉ đạo triển khai các mô hình: nuôi heo rừng, cá lăng nha, cá diêu hồng; qua đánh giá đã khẳng định tính phù hợp của vật nuôi với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại huyện.

* Về thuỷ lợi: Phối hợp với Công ty Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi Lâm Đồng khai thác các công trình thuỷ lợi trên địa bàn do đó đã phát huy công suất tưới phục vụ sản xuất, diện tích chủ động nước tưới  là 3.288 ha (trong đó: vụ Đông xuân 2.498 ha, vụ Hè thu 790 ha), chiếm 42% diện tích lúa.

* Lâm nghiệp, lâm sinh:

Duy trì công tác tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng.

Tổ chức kiểm tra, truy quét, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về quản lý, bảo vệ rừng. Tổ chức giao khoán quản lý bảo vệ rừng với diện tích 6.542,6 ha. Trong năm, xử lý 95 vụ vi phạm, tăng 18 vụ so cùng kỳ, hành vi vi phạm chủ yếu là phát rừng làm rẫy và khai thác lâm sản trái phép thuộc rừng sản xuất.

Về công tác phòng cháy chữa cháy rừng: Tăng cường tuần tra, kiểm soát, chuẩn bị tốt các điều kiện phòng cháy chữa cháy rừng. Mùa khô năm 2007 – 2008 đã xảy ra 03 vụ cháy rừng, do phát hiện sớm và triển khai kịp thời công tác chữa cháy nên diện tích thiệt hại chỉ có 6,83 ha. 

Tiếp tục thực hiện Quyết định số 864/QĐ-UBND ngày 22/02/2006 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt kế hoạch trồng rừng trên diện tích đất lâm nghiệp chưa có rừng và rừng nghèo kiệt đã giao cho hộ gia đình thuộc dự án Bảo vệ rừng và Phát triển nông thôn trên địa bàn huyện Cát Tiên giai đoạn 2006 -2010, năm 2008, diện tích thực hiện 541,6 ha, đạt 90,2% kế hoạch năm (trong đó: cây điều 461,6 ha, cây keo 80 ha); luỹ kế diện tích rừng trồng 3 năm (2006 - 2008) là 1.624,1 ha, đạt 74,15% kế hoạch giai đoạn 2006 -2010. Công tác trồng rừng được thực hiện đúng trình tự quy định.

Thực hiện chủ trương khai thác tận thu gỗ trên rừng trồng năm 2008 và trên nương rẫy, khối lượng thực hiện 1.110 m3, đạt 90% khối lượng cấp phép.

b) Quản lý đất đai – Khoáng sản - Môi trường:

Chỉ đạo cơ quan chức năng và UBND các xã, thị trấn tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực đất đai theo Luật đất đai và Chỉ thị số 05/2004/CT-UB ngày 30/8/2004 của UBND huyện. Tiến hành đo đạc và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo kế hoạch được giao, đã cấp 601 giấy, đạt 133% kế hoạch. Hoàn thành việc phê duyệt và công bố, công khai kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2006 - 2010 của các xã, thị trấn.

Công tác quản lý tài nguyên khoáng sản trên địa bàn được chú trọng, tiến hành quy hoạch các điểm khai thác đất và quản lý hoạt động khai thác cát đúng quy định theo giấy phép được UBND tỉnh cấp. Công tác thu gom rác thải bảo đảm vệ sinh môi trường được thực hiện đúng quy định.

c) Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - Thương mại - Dịch vụ:

* Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:

Trong năm, công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp tăng ở một số lĩnh vực như chế biến lương thực, bóc tách hạt điều góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân.

Phát triển điện: Phối hợp ngành điện triển khai thực hiện Kế hoạch cải tạo lưới điện hạ thế trên địa bàn, triển khai xây dựng đường điện thuộc tuyến đường Lô 2 và phát triển điện theo đề án Tây nguyên, nâng tỷ lệ hộ dùng điện trên địa bàn là 86,4%.

* Hoạt động thương mại - dịch vụ:

Hoạt động của các cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ cơ bản ổn định góp phần thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá trên địa bàn. Trong năm, đã thành lập Ban Quản lý Chợ Cát Tiên và chỉ đạo phát huy hiệu quả sử dụng của công trình Chợ Phước Cát 1.

d) Quản lý quy hoạch, đô thị - Xây dựng cơ bản – Giao thông vận tải:

* Quản lý quy hoạch, đô thị:

Tăng cường công tác quản lý trên lĩnh vực quy hoạch; hoàn thành quy hoạch trung tâm huyện lỵ, trung tâm cụm xã Gia Viễn và trung tâm các xã: Quảng Ngãi, Tư Nghĩa, Đức Phổ, Đồng Nai Thượng, Tiên Hoàng, luỹ kế 100% xã, thị trấn đã hoàn thành quy hoạch trung tâm xã. Chỉ đạo công bố, công khai, cắm mốc các quy hoạch được duyệt. Phối hợp Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Lâm Đồng tổ chức cắm mốc quy hoạch Khu di chỉ khảo cổ Cát Tiên.

Chú trọng công tác quản lý đô thị, quản lý hoạt động xây dựng trên địa bàn, xử lý, chấn chỉnh các hành vi vi phạm trong hoạt động đầu tư xây dựng. 

* Xây dựng cơ bản:

Phân khai kịp thời các nguồn vốn và đôn đốc chủ đầu tư triển khai thực hiện các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm đẩy nhanh tiến độ thi công, nhất các công trình trọng điểm. Duy trì việc kiểm tra chất lượng công trình, xử lý những hành vi vi phạm trong hoạt động đầu tư; tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ cho các chủ đầu tư, UBND các xã, thị trấn.

Tổng kế hoạch vốn năm 2008 là 66.022,5 triệu đồng, giá trị giải ngân 61.997,8 triệu đồng, đạt 93,9% kế hoạch. Trong đó:

- Vốn ngân sách tỉnh: Kế hoạch vốn năm 2008 là 60.316 triệu đồng, giá trị giải ngân 56.623,8 triệu đồng, đạt 94% kế hoạch.

- Vốn ngân sách huyện (Nguồn tỉnh phân cấp và sự nghiệp giao thông, thuỷ lợi có tính chất xây dựng cơ bản): Kế hoạch vốn năm 2008 là 5.706,5 triệu đồng, giá trị giải ngân 5.374 triệu đồng, đạt 94% kế hoạch.

* Về giao thông vận tải:

Tăng cường quản lý hoạt động các phương tiện giao thông đường bộ và đường thuỷ nội địa trên địa bàn; cấm xe độ chế lưu thông trên địa bàn và hạn chế tải trọng trên số tuyến đường trong mùa mưa. Duy trì công tác kiểm tra, khắc phục hệ thống giao thông đường bộ bảo đảm việc đi lại của nhân dân. Tuy nhiên, hệ thống giao thông trên địa bàn phần lớn đã xuống cấp nên việc đi lại của nhân dân gặp nhiều khó khăn. Chỉ đạo nâng cao chất lượng phục vụ của hoạt động dịch vụ vận tải, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá của nhân dân.

e) Tài chính - Ngân sách:                           

Trong năm, ban hành Quyết định phê duyệt đề án thu ngân sách và tập trung chỉ đạo thu theo đề án được duyệt; quản lý chặt chẽ và khai thác có hiệu quả các nguồn thu. UBND các xã, thị trấn đã có nhiều cố gắng trong công tác thu ngân sách, do đó kết quả thu đạt khá.

Công tác quản lý, điều hành chi ngân sách được thực hiện đúng quy định; thường xuyên kiểm tra các đơn vị dự toán, qua đó kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các hành vi vi phạm. Phân bổ, triển khai kịp thời và quản lý tốt các nguồn vốn, chương trình mục tiêu. Tiết kiệm 10% chi thường xuyên và giảm chi 10% nhằm thực hiện chỉ đạo kiềm chế lạm phát.

Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 16.100 triệu đồng, đạt 128,49% kế hoạch tỉnh và huyện, 112,35% kế hoạch phấn đấu, tăng 57,41% so cùng kỳ. Trong đó:

+ Ngành thuế thực hiện thu 12.300 triệu đồng, đạt 122,63% kế hoạch tỉnh và huyện, 106,68% kế hoạch phấn đấu, tăng 61,97% so cùng kỳ. Trong đó: thuế, phí 6.910 triệu đồng, đạt 109,68% kế hoạch tỉnh và huyện, 109,68% kế hoạch phấn đấu, tăng 40,96% so cùng kỳ; thu cấp thuê đất 5.390 triệu đồng, đạt 144,5% kế hoạch tỉnh và huyện, đạt 103,06% kế hoạch phấn đấu, tăng 228,66% so cùng kỳ.

+ Ngành tài chính thực hiện thu 3.800 triệu đồng, đạt 152% kế hoạch tỉnh và huyện, 135,71% kế hoạch phấn đấu, tăng 44,27% so cùng kỳ.

- Tổng thu ngân sách địa phương 110.456 triệu đồng, đạt 163,34% kế hoạch tỉnh và huyện, đạt 162,5% kế hoạch phấn đấu, tăng 18,05% so cùng kỳ.

- Tổng chi ngân sách địa phương 99.410 triệu đồng, đạt 147% kế hoạch tỉnh và huyện, tăng 23,95% so cùng kỳ.

Tập trung đôn đốc thu hồi công nợ, kết quả thu đạt 15,5 triệu đồng, luỹ kế đạt 866,4/1.273,4 triệu đồng.

f) Hoạt động Tín dụng - Ngân hàng:           

- Ngân hàng chính sách xã hội: Doanh số cho vay 41.446 triệu đồng/2.655 lượt người, tăng 22,7% so cùng kỳ. Tổng dư nợ 81.306 triệu đồng/5.225 lượt người. Trong đó: dư nợ hộ nghèo 40.996 triệu đồng/3.026 hộ; dư nợ vùng khó khăn 20.330 triệu đồng; dư nợ hộ đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn 260 triệu đồng; dư nợ giải quyết việc làm 3.940 triệu đồng, dư nợ nước sạch và vệ sinh môi trường 5.000 triệu đồng; dư nợ xuất khẩu lao động 600 triệu đồng; dư nợ học sinh sinh viên 10.200 triệu đồng.

- Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Nguồn vốn huy động 47.000 triệu đồng, doanh số cho vay 129.000 triệu đồng. Tổng dư nợ 117.000 triệu đồng, nợ quá hạn dưới 0,5% tổng dư nợ.

Công tác huy động vốn và cho vay luôn được quan tâm đúng mức, nguồn vốn tiếp tục được tập trung đầu tư cho các chương trình mục tiêu, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay để sản xuất, kinh doanh của nhân dân địa phương, nhất là nhu cầu vay vốn của hộ nghèo, vốn vay học sinh, sinh viên.

2. Lĩnh vực văn hoá – xã hội:

a) Giáo dục:

Về công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực giáo dục: Chỉ đạo các cơ sở giáo dục triển khai nhiệm vụ năm học do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra, đảm bảo đúng quy định. Công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp đảm bảo chỉ tiêu được giao; hoàn thành việc xét cử tuyển học sinh vào các trường Cao đẳng, Đại học, trường Dân tộc Nội trú năm học 2008-2009.

Tập trung đổi mới phương pháp giảng dạy theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm nâng cao chất lượng học tập. Sắp xếp, bố trí, luân chuyển đội ngũ cán bộ, giáo viên để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Về hệ thống cơ sở giáo dục: năm học 2007 - 2008, toàn huyện có 29 trường học và 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên; năm học 2008 - 2009, tăng 01 trường học so với năm học 2007 - 2008 (Trường THCS Nam Ninh). Bước đầu hình thành 03 nhóm trẻ gia đình ở các xã Phước Cát 1, Phù Mỹ và thị trấn Đồng Nai.

Về cơ sở vật chất: Tăng cường cơ sở vật chất của các cấp học, đặc biệt tập trung đầu tư cho một số trường để đạt chuẩn Quốc gia trong thời gian tới. Trong năm 2008, đầu tư xây dựng mới 05 trường học, nâng tổng số trường học được xây dựng mới trên toàn huyện là 16 trường, đáp ứng yêu cầu cơ sở vật chất phục vụ nhiệm vụ dạy và học.

Công tác phổ cập giáo dục: Được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS cấp huyện.

b) Y tế  - Dân số gia đình - Trẻ em:

- Công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực Y tế: Tăng cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm tra các cơ sở hành nghề y dược tư nhân trên địa bàn, qua kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Do đó, đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, nâng cao nhận thức của người kinh doanh và đảm bảo sức khoẻ cho nhân dân. 

Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân được chú trọng, thực hiện đồng bộ và có hiệu quả các chương trình y tế quốc gia, do đó, trong năm không xảy ra dịch bệnh ở người. Công tác y tế vùng đồng bào dân tộc được chú ý quan tâm.

Công trình Trung tâm Y tế được đưa vào sử dụng trong năm 2008, đáp ứng nhu cầu khám, điều trị bệnh cho nhân dân. Toàn huyện có 12/12 trạm y tế xã, thị trấn được công nhận đạt chuẩn quốc gia về y tế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho ngành y tế được tăng cường, triển khai thực hiện mô hình khám chữa bệnh theo yêu cầu.

- Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình: Tập trung tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân về pháp lệnh dân số; duy trì chiến dịch sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm sinh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên còn 1,28%. Công tác phòng, chống suy dinh dưỡng trẻ em được chú trọng, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 18,3%.

c) Văn hoá - Thông tin - Thể dục - Thể thao:

Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá - thông tin. thường xuyên kiểm tra các cơ sở kinh doanh dịch vụ văn hoá, Internet, phát hiện, chấn chỉnh và xử lý các cơ sở vi phạm quy định của nhà nước. Thường xuyên tuyên truyền, tổ chức các hoạt động văn hoá - văn nghệ, thể dục - thể thao chào mừng các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị ở địa phương. Duy trì phong trào “Rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” trong nhân dân, tỷ lệ người dân tham gia luyện tập thể dục ngày càng tăng.

Tiếp tục duy trì việc phát động xây dựng thôn, buôn, khu phố, cơ quan văn hoá. Trong năm, có 03 thôn, buôn, khu phố, 11 cơ quan và 130 hộ đăng ký xây dựng thôn, buôn, khu phố, cơ quan và gia đình văn hoá; luỹ kế có 80/81 thôn, buôn, khu phố đăng ký (NQ HĐND huyện: 81 thôn, buôn, khu phố); 51/73 cơ quan đăng ký (NQ HĐND huyện: 66 cơ quan); 6.700/8.296 hộ đăng ký (NQ HĐND huyện: 6.700/8.296 hộ). Đã công nhận danh hiệu văn hoá cho 35/80 thôn, buôn, khu phố, 20/51 cơ quan và 6.000/6.700 hộ đăng ký.

Các dịch vụ thuộc lĩnh vực bưu chính, viễn thông đáp ứng yêu cầu phục vụ nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương, trên địa bàn huyện hiện có 7.800 thuê bao điện thoại cố định, 500 thuê bao Internet, 23 trạm thu phát sóng dùng trong mạng di động không dây (BTS).

Hoạt động thông tin, tuyên truyền qua hệ thống Truyền thanh - Truyền hình có nhiều chuyển biến trong việc tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, đồng thời thông tin, phản ánh kịp thời các hoạt động kinh tế - văn hoá xã hội của địa phương đến các tầng lớp nhân dân.

d) Chính sách xã hội:                                      

* Công tác đền ơn đáp nghĩa: Thực hiện đầy đủ, đúng và kịp thời các chế độ cho đối tượng chính sách, gia đình có công. Tổ chức thăm hỏi, tặng quà nhân ngày Thương binh liệt sĩ 27/7 và Tết Nguyên đán Mậu Tý 2008; vận động xây dựng quỹ đền ơn đáp nghĩa, tổng số tiền thu được là 79,6 triệu đồng, đã chi sửa chữa 08 căn nhà cho đối tượng chính sách, sửa chữa mộ cho mẹ Việt Nam anh hùng, và hỗ trợ khó khăn cho 08 đối tượng, với tổng số tiền 56 triệu đồng.

* Công tác xoá đói giảm nghèo: Tổng số hộ nghèo đầu năm 2008 là 2.067 hộ/8.998 khẩu, chiếm 23,7% tổng số hộ, trong đó: hộ nghèo đồng bào dân tộc là 613 hộ/1.567 hộ, chiếm 39,12% tổng số hộ đồng bào dân tộc; tiến hành rà soát phân loại đối tượng nghèo và có các giải pháp hỗ trợ thích hợp, do đó tỷ lệ hộ nghèo đến hết năm 2008 còn 22,08%, số hộ nghèo giảm 142 hộ.

* Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm: Tập trung chỉ đạo thực hiện công tác dạy nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động. Thường xuyên phối hợp với các cơ sở dạy nghề trong và ngoài tỉnh để tổ chức đào tạo nghề cho lao động tại địa phương. Tuy nhiên, số lao động địa phương được giải quyết việc làm và xuất khẩu không đạt kế hoạch.

 * Công tác xã hội được quan tâm, đảm bảo trợ cấp thường xuyên cho các đối tượng theo quy định. Trong năm, UBND huyện tổ chức trợ cấp đột xuất 02 đợt cứu đói cho nhân dân 70,735 tấn gạo.Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc, trẻ em dưới 6 tuổi được thực hiện đúng quy định.

Trong năm, đã cấp 18.584 thẻ bảo hiểm y tế cho hộ nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, các xã đặc biệt khó khăn và 409 thẻ khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi.

* Công tác xoá nhà tạm: Trong năm 2008, thực hiện xoá 317 căn nhà tạm với tổng số tiền 3.170 triệu, đạt 100% kế hoạch, luỹ kế thực hiện 463/619 căn, đạt 74,8 %.   

3. Quốc phòng – An ninh:

Quan tâm đến công tác quốc phòng, an ninh trên tất cả các lĩnh vực. Cụ thể:

- Về công tác quốc phòng: Thực hiện tốt công tác gọi thanh niên nhập ngũ và tổ chức giao quân đợt 1 năm 2008 đạt 100% chỉ tiêu cấp trên giao; tham gia diễn tập chỉ huy nâng cao do Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh tổ chức. Duy trì công tác huấn luyện dân quân tự vệ, dự bị động viên theo kế hoạch; tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đối tượng 4 và 5; cử cán bộ tham gia bồi dưỡng kiến thức quốc phòng thuộc đối tượng 3 tại tỉnh; tổ chức diễn tập vận hành cơ chế 02-NQ/BCT của Bộ chính trị tại xã Phước Cát 1 và Phước Cát 2.



Phần II

KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2009

 

Năm 2009, một số thuận lợi nổi bật như: một số công trình giao thông, thuỷ lợi, phúc lợi xã hội được đầu tư trong các năm qua đã phát huy hiệu quả, mặt khác, cơ chế, chính sách của Nhà nước ngày càng thông thoáng và quan tâm nhiều hơn đến vùng sâu, xa, vùng đồng bào dân tộc, tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Bên cạnh đó, những khó khăn, thách thức chủ yếu là: tình hình lạm phát kinh tế trong nước; kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ; khả năng thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế còn hạn chế; tốc độ phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ tăng chậm; tích luỹ nội bộ trong nhân dân thấp, đời sống của một bộ phận nhân dân còn khó khăn; thiên tai, dịch bệnh chưa thể lường trước được; đặc biệt trong năm 2009, việc sửa chữa công trình Hồ chứa nước ĐắkLô làm ảnh hưởng khả năng phục vụ của công trình.

Để phát huy kết quả đạt được, đồng thời khắc phục khó khăn, hạn chế, công tác quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng tập trung những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau:

I. Một số chỉ tiêu chủ yếu.

1. Tổng sản phẩm xã hội (GDP) tăng 13- 14% so với cùng kỳ. 

  Trong đó:

- Lĩnh vực nông, lâm, thủy:                        Tăng 9 -10%.  

- Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: Tăng 16 - 17%.

- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ:     Tăng 18- 19%.

2. Cơ cấu kinh tế:

- Lĩnh vực nông, lâm, thủy:                        Chiếm 53,89%.

- Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng: Chiếm 18,93%

- Lĩnh vực thương mại - dịch vụ:     Chiếm 27,18%

3.  Thu nhập bình quân đầu người:             7.500.000 đồng.

4.  Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn: 17.000 triệu đồng. Trong đó:

- Ngành Thuế thực hiện thu:                      13.780 triệu đồng.

- Ngành tài chính thực hiện thu:       3.220 triệu đồng.

5. Tổng sản lượng lương thực:                  39.400 tấn.

6. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 18,1%.

7. Tỷ lệ hộ nghèo dưới 21%.

8. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,28%.

II. Nhiệm vụ và giải pháp cụ thể:

1. Lĩnh vực kinh tế.

a) Về nông, lâm nghiệp:

- Tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đẩy mạnh sản xuất theo hướng hàng hoá, trong đó chú trọng sản xuất lúa có giá trị kinh tế cao, mở rộng quy mô sản xuất lúa giống.

- Phát triển kinh tế trang trại, nhân rộng các mô hình kinh tế nông lâm kết hợp, kinh tế vườn đồi. Động viên và hướng dẫn nhân dân đầu tư thâm canh, cải tạo vườn điều hiện có bằng các giống có năng suất, chất lượng cao. Phối hợp thực hiện dự án Đa dạng hoá cảnh quan và cải thiện sinh kế cho nông dân tổ chức tại huyện Cát Tiên do tổ chức WWF Việt Nam quản lý với nguồn tài trợ của cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch (DANIDA).

- Tập trung phát triển và nâng cao chất lượng đàn vật nuôi, nhất là đàn bò, heo; làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi.

- Tổ chức đánh giá toàn diện các chương trình, dự án đầu tư, các mô hình kinh tế nông nghiệp trong nhân dân có hiệu quả để có chính sách khuyến khích đầu tư phát triển nhằm nâng cao thu nhập trên đơn vị diện tích.

- Chú trọng các công trình thuỷ lợi nhỏ, vận động nhân dân đầu tư xây dựng kênh mương nội đồng để tăng diện tích chủ động nước tưới vụ Đông xuân lên 3.500 ha.

- Tăng cường công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng trong mùa khô, xử lý nghiêm những hành vi xâm hại tài nguyên rừng; tiến hành rà soát,  kiểm tra và tổ chức cho nhân dân trồng rừng trên diện tích chưa thực hiện được theo thiết kế được duyệt từ các năm 2006, 2007, 2008.

b) Quản lý đất đai, tài nguyên, môi trường, khoáng sản:

- Tăng cường công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, quản lý môi trường; xử lý kịp thời các hành vi vi phạm.

- Quản lý đất đai theo kế hoạch, quy hoạch được duyệt.

- Triển khai đo đạc đối với diện tích đất đồi sau phân định là đất nông nghiệp có rừng nay đã sử dụng ổn định và đất mới khai hoang; tiến hành rà soát và xử lý các sai sót trong quá trình đo đạc, cấp quyền sử dụng đất từ các năm trước nhằm tạo sự đồng bộ trong quản lý, sử dụng đất.

c) Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ.

- Tổ chức quảng bá, giới thiệu nhằm thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài huyện đầu tư xây dựng các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại Cụm công nghiệp Đức Phổ.

- Thực hiện việc liên kết, trao đổi hàng hoá với các địa phương lân cận.

- Tăng cường chất lượng phục vụ của dịch vụ vận tải; tiếp tục huy động các nguồn vốn đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các chợ nông thôn theo Quyết định số 867/QĐ-UBND ngày 09/4/2008 của UBND tỉnh Lâm Đồng về việc phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới chợ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 để đáp ứng yêu cầu cung ứng vật tư, hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân khảo sát, thăm dò và đầu tư khai thác tiềm năng về cảnh quan thiên nhiên và các hoạt động văn hoá truyền thống của các dân tộc.

- Phối hợp Sở Văn hoá – Thể thao và Du lịch tiếp tục thực hiện đầu tư xây dựng khu Di chỉ khảo cổ Cát Tiên.

d) Quy hoạch - Xây dựng cơ bản:

- Tăng cường công tác quản lý đô thị, trật tự xây dựng trên địa bàn; triển khai việc đặt tên đường, số nhà ở trung tâm thị trấn.

- Lập dự án nâng cấp đơn vị hành chính xã Phước Cát 1 thành thị trấn Phước Cát.

- Tăng cường công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, nâng cao trách nhiệm, năng lực của các chủ đầu tư để đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tập trung thực hiện hoàn thành các công trình chuyển tiếp (nhất là công trình trọng điểm) để đưa vào khai thác có hiệu quả.

- Đối với nguồn vốn tỉnh phân cấp cho huyện, bố trí không dàn trải, ưu tiên các công trình hoàn thành trong năm 2008 và các năm trước còn thiếu vốn, công trình chuyển tiếp, công trình dở dang.

- Hoàn thành việc bố trí tái định cư và thực hiện bán đấu giá đất khu quy hoạch đường Lô 2 để đạt chỉ tiêu thu từ đất năm 2009.

e) Tài chính – ngân sách:

- Huy động tối đa các nguồn thu, tăng cường chống thất thu thuế, phí; chỉ đạo xác định nguồn thu, địa bàn thu cụ thể ngay từ đầu năm để có kế hoạch thu hàng tháng, quý. Phấn đấu thu đạt và vượt chỉ tiêu tỉnh và huyện giao.

- Tổ chức quyết liệt công tác thu hồi công nợ, phấn đấu trong năm thu hồi trên 70%.

- Quản lý, điều hành chi ngân sách chặt chẽ theo dự toán và tiết kiệm, chống lãng phí, bảo đảm an sinh xã hội và các nhiệm vụ bức xúc.

- Tiếp tục quán triệt và kiểm tra việc thực hiện Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 của Chính phủ về giao quyền tự chủ đối với đơn vị quản lý Nhà nước và Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ về chế độ tự chủ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

2. Lĩnh vực văn hoá – xã hội:

a) Giáo dục:

- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục; tăng cường công tác duy trì sĩ số, chống bỏ học ở các cấp. Chăm lo củng cố, phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, vùng đặc biệt khó khăn.

- Tăng cường đầu tư xây dựng đồng bộ các cơ sở giáo dục, phấn đấu đến hết năm 2009 có 01 trường đạt chuẩn quốc gia.

- Duy trì và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục THCS và giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi.

b) Y tế - Dân số - Kế hoạch hoá gia đình:

- Củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động công tác bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân; thực hiện tốt chính sách khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc và trẻ em dưới 6 tuổi. Thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên xây dựng mô hình điểm về phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em tại xã Đồng Nai Thượng.

- Tiếp tục thực hiện tốt chương trình mục tiêu quốc gia về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình; tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền về sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình nhằm giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 và phấn đấu giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên dưới 1,28%.

c) Văn hoá - Thông tin - Thể thao:

- Tăng cường công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hoá - thông tin; duy trì các hoạt động văn hoá - văn nghệ để nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc; đẩy mạnh phong trào thể dục - thể thao trong nhân dân để rèn luyện sức khoẻ.

- Tiếp tục phát động phong trào xây dựng thôn, buôn, khu phố, cơ quan và gia đình văn hoá; phấn đấu trong năm có 01 thôn đăng ký xây dựng thôn văn hoá, luỹ kế có 81/81 thôn, buôn, khu phố đăng ký; 18 cơ quan đăng ký xây dựng cơ quan văn hoá, luỹ kế có 69/73 cơ quan đăng ký; 500 hộ đăng ký xây dựng gia đình văn hoá, luỹ kế có 7.200 hộ đăng ký. Trong đó số thôn, buôn, khu phố, cơ quan và gia đình được công nhận danh hiệu văn hoá là: 05 thôn, buôn, khu phố, luỹ kế là 40 thôn, buôn, khu phố; 10 cơ quan, luỹ kế là 30 cơ quan; 200 hộ, luỹ kế là 6.200 hộ.

- Tiếp tục xây dựng điểm mô hình xã đạt chuẩn văn hoá; xây dựng 12 câu lạc bộ gia đình văn hoá; triển khai thực hiện giai đoạn 1 - Đề án phòng, chống bạo lực trong gia đình.

- Nâng cao chất lượng thông tin trên hệ thống truyền thanh - truyền hình, phổ biến kịp thời các chủ trương, chính sách của Nhà nước đến các tầng lớp nhân dân.

d) Chính sách xã hội:

Giải quyết kịp thời và đầy đủ các chế độ cho đối tượng chính sách và trợ cấp xã hội. Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 21%, lồng ghép các nguồn vốn đầu tư để nâng cao đời sống cho đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ. Chú trọng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động. Tiếp tục vận động và kêu gọi các tổ chức, cá nhân tham gia xoá nhà tạm cho hộ nghèo, hoàn thành xoá 156 căn nhà tạm. Huy động nguồn vốn từ các thành phần kinh tế để đầu tư, hỗ trợ xây dựng nhà ở cho đồng bào dân tộc BuônGo - Thị trấn Đồng Nai theo dự án đầu tư xây dựng thôn dân tộc BuônGo.

Tiếp tục triển khai thực hiện dự án bố trí sắp xếp dân cư ở vùng đặc biệt khó khăn thôn 3, 4 xã Phước Cát 2 theo phê duyệt của UBND tỉnh Lâm Đồng tại Quyết định số 135/QĐ-UBND ngày 16/01/2008.

3. Cải cách thủ tục hành chính.

- Tiếp tục chấn chỉnh lề lối làm việc trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực điều hành, tổ chức thực hiện của các phòng ban chuyên môn và UBND các xã, thị trấn đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo tinh thần đột phá, tăng tốc.

- Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, thực hiện tốt cơ chế một cửa, một cửa liên thông, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân và các tổ chức đến liên hệ công việc. Tổ chức đánh giá làm cơ sở mở rộng lĩnh vực giải quyết thủ tục hành chính theo hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001: 2000 đối với các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước.

4. Quốc phòng - An ninh:

- Tiếp tục củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, giữ vững ổn định chính trị, quốc phòng – an ninh và trật tự an toàn xã hội, nâng cao hiệu quả phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc; kiên quyết đấu tranh phòng chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, thực hiện nhiều biện pháp để giảm thiểu tai nạn giao thông.

- Duy trì trực sẵn sàng chiến đấu từ huyện đến cơ sở; tổ chức huấn luyện, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng - an ninh theo kế hoạch. Thực hiện tốt công tác tuyển quân năm 2009 đảm bảo chỉ tiêu kế hoạch cấp trên giao. Chuẩn bị các điều kiện diễn tập ở 02 xã theo cơ chế 02/BCT của Bộ Chính trị.

- Tăng cường công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý các vấn đề phát sinh phức tạp ngay từ cơ sở, đấu tranh kiên quyết với các phần tử cực đoan, không để bị kích động, xúi giục gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

5.  Công tác tư pháp, thanh tra và giải quyết đơn thư:

- Chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân và cán bộ, công chức. Thực hiện tốt việc kiểm tra, kiểm soát ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo đúng trình tự, thủ tục quy định. Đôn đốc công tác thi hành án dân sự tại địa phương.

- Thực hiện tốt công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; triển khai thanh tra theo kế hoạch và thanh tra theo chỉ đạo của Chủ tịch UBND huyện. Trong đó tập trung thanh tra trách nhiệm thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn, thanh tra công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước. 

- Duy trì công tác tiếp dân theo định kỳ, giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời tăng cường nâng cao trách nhiệm của thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và Chủ tịch UBND các xã, thị trấn trong việc giải quyết đơn thư thuộc thẩm quyền nhằm hạn chế tình trạng đơn thư vượt cấp, đơn thư tồn đọng, kéo dài.

Trên đây là báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2008 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2009.

 

Vp HĐND-UBND huyện

Các tin khác
   Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng năm 2007, phương hướng, nhiệm vụ năm 2008(29/01/2008)
Tin mới nhận
(07/09/2010) Tiếp tục đẩy mạnh công tác chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi và phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại trong giai đoạn 2010 – 2015
(07/09/2010) Mít tinh kỷ niệm 65 năm Cách mạng tháng tám và Quốc khánh 02/9
(07/09/2010) Hiến máu tình nguyện đợt 3 năm 2010
(27/08/2010) Hội liên hiệp Phụ nữ tỉnh Lâm Đồng tổ chức tập huấn về an toàn giao thông cho cán bộ hội cơ sở ở huyện Cát Tiên
Giá đất năm 2010
Bảng giá đất trên địa bàn huyện Cát Tiên 2010
Chương trình công tác 2010
Lịch công tác tháng 9/2010
Lịch công tác tháng 8/2010
Lịch công tác tháng 7/2010
Lịch công tác tháng 6/2010